Hiển thị các bài đăng có nhãn tuconggiao. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tuconggiao. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 27 tháng 10, 2012

Tâm?


Tìm hiểu ý nghĩa chữ "Tâm"

WGPSG -- Có một tử tù kia suốt đời làm việc tội lỗi, giết người, trộm cướp, lòng dạ rất xấu xa. Trước khi bị xử tử, anh ta hối hận; và để chuộc lại tội lỗi của mình, anh xin hiến trái tim của mình cho người cần thay tim. Nhưng sau đó không bệnh nhân nào dám nhận trái tim của anh, vì sợ sau này cũng độc ác như anh!
Văn hoá Đông Tây tuy có nhiều khác biệt, nhưng đều lấy “tâm” diễn tả tình cảm của con người. Chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa của chữ “tâm”.
1. Nghĩa chữ tâm:
Tâm có hai chữ Hán là 心 và 芯 [1] ở đây là chữ 心, chữ tâm 心 là chữ tượng hình, viết kiểu tiểu triện có hình trái tim, còn viết kiểu khải thư 心 thì ở trên có ba dấu tượng trưng ba cái cuống, ở dưới là túi chứa máu. Chữ này diễn biến qua các cách viết như sau:
Chữ tâm (心) có rất nhiều nghĩa:
1.1. Nghĩa thông thường: (dt.) (1) Tim (heart): tâm tạng (quả tim), tâm thất (ngăn bên dưới trong trái tim). (2) Lòng, dạ, ruột, phần bên trong (inner): tâm phúc (bụng dạ); không tâm thái (rau rỗng ruột, tức rau muống). (3) Lòng, tình cảm con người (inner emotion): tâm cảm (inner feelings), tâm phục (thật lòng kính trọng vâng theo); tâm ý (lòng dạ và đầu óc); đồng tâm nhất trí (cùng một lòng, một ý). (4) Giữa (center), điểm ở giữa, quy tụ các điểm khác, thường nói về phần giữa đều gọi là tâm: viên tâm (điểm giữa vòng tròn), trọng tâm, trung tâm. (5) Tên một ngôi sao trong Nhị thập bát tú, sao Tâm, tức sao Hoả. (6) Tên một bộ chữ Hán, bộ Tâm, cũng viết là忄, khi đứng bên trái.
1.2. Nghĩa tâm lý và đạo đức: Ngày xưa, người ta ngộ nhận tâm là nguồn gốc của mọi sinh hoạt tâm lý, nên các tình trạng tư tưởng và tình cảm đều gọi là tâm: tâm tưởng (thinking); tâm tính (mood), tâm ý (idea). Ngày nay, theo các thí nghiệm tâm sinh lý, điều đó không đúng nữa. Dầu vậy, tâm vẫn còn được coi là: (1) Tượng trưng của tình cảm, tình yêu (love): ♥. (2) Khả năng nhận thức sự vật, suy nghĩ và cảm giác: tâm trí (mind). (3) Khả năng phán đoán về thiện ác theo quy luật đạo đức: lương tâm (conscience). (4) Toàn bộ các hiện tượng tâm lý, từ cảm giác đến tình cảm, hành vi, ý chí...: tâm lý (psychic), tâm trạng (mental = tâm thần). (5) Phần linh thiêng nơi con người, đối lập với thân xác: tâm hồn (spirit, soul = linh hồn); tâm linh (spiritual).
2. Tâm trong Phật giáo
Khái niệm “tâm” của Phật Giáo không đơn giản như các học giả phương Tây lầm tưởng. Tâm được xem là một trong những phạm trù quan trọng, cơ bản của Phật Giáo. Kinh Pháp Cú, vốn được xem như Kinh Thánh của Phật Giáo mở đầu như sau:“Tâm dẫn đầu các pháp. Tâm là chủ. Tâm tạo tất cả”. Một cách khái quát, qua các kinh điển Phật Giáo [2] người ta có thể phân biệt sáu loại tâm:
2.1. Nhục đoàn tâm (肉團心): trái tim thịt (Phật Giáo không để ý nhiều tới nghĩa này). Ví dụ: “Hễ Bồ Tát nghe tiếng bọn người ác ngoại đạo đem lời dèm pha phá huỷ Phật giái, dường như ba trăm mũi giáo đâm vào tâm mình” (Bồ Tát Giái Kinh).
2.2. Tinh yếu tâm (精要心): chỗ kín mật, chỉ cái tinh hoa cốt tuỷ. Ví dụ: “Phật pháp lấy tâm làm gốc, lấy thân và khẩu làm ngọn” (Long Thọ Bồ Tát).
2.3. Kiên thực tâm (堅實心): là cái tâm không hư vọng, cũng gọi là chân tâm. Chỉ cái tuyệt đối, cái mầm mống giác ngộ vốn sẵn có trong mỗi chúng ta, đó là Phật tính:"Căn bản của sanh tử luân hồi là vọng tâm. Căn bản của bồ đề niết bàn là chân tâm"(Kinh Thủ Lăng Nghiêm).
2.4. Liễu biệt tâm (了別心) [3]: gồm sáu loại nhận thức đầu trong tám thức [4], tức là tri thức giác quan và ý thức. Căn cứ phát sinh của nó là giác quan, thần kinh hệ và não bộ. Có tác dụng dựa vào với ngoại cảnh bên ngoài và phân biệt nhận thức chúng: “Tâm buồn cảnh được vui sao, tâm an dù cảnh ngộ nào cũng an”.
2.5. Tư lượng tâm (思量心) còn gọi là Mạt-na thức (末那識) [5]: thức thứ bảy trong tám thức. Một trong các chức năng chính của nó là nhận lập trường chủ quan của thức thứ tám (A-lại-da thức), lầm cho lập trường này là bản ngã của chính mình, vì vậy mà tạo ra chấp ngã, là bản ngã, cái tôi của con người (ego-consciousness). Bản chất của nó là suy tính, nhưng có sự khác với thức thứ sáu. Nó được xem là tâm trạng của một lĩnh vực mà người ta không thể điều khiển một cách có chủ ý, thường phát sinh những mâu thuẫn của những quyết định tâm thức và không ngừng chấp dính vào bản ngã: “Mạt-na nhậm trì ý thức linh phân biệt chuyển, thị cố thuyết vi ý thức sở y: Mạt-na nhận lấy ý thức, khiến sinh khởi phân biệt; nên gọi nó là chỗ y cứ của ý thức” (Du-già sư địa luận)
2.6. Tập khởi tâm (集起心) còn gọi là A-lại-da thức (阿賴耶識) dịch nghĩa là tạng thức (藏識) [6]: chứa đựng mọi kinh nghiệm của đời sống mỗi con người và nguồn gốc tất cả các hiện tượng tinh thần. Là căn nguyên của mọi hoạt động nhận thức, hoạt động tâm lý; là nơi lưu trữ những hạt giống sinh ra muôn sự muôn vật, hữu hình hay vô hình. Tâm lý học phương Tây thường gọi thức này là vô thức hay tiềm thức: “Nhất thiết thế gian trung. Mặc bất tùng tâm tạo: Tất cả những gì trong thế gian. Đều là do tâm tạo” (Kinh Hoa Nghiêm).
Phật Giáo không quan niệm tâm là một cái gì thuần nhất, giản đơn theo kiểu như khái niệm linh hồn. Theo Ngũ uẩn, tâm không phải chỉ là một cục hay một khối cứng nhắc, mà là một luồng tư tưởng, một chuỗi dài tư tưởng, có sinh có diệt (khác quan niệm “hồn thiêng bất tử”), có năng lực (nghiệp lực) được chuyển từ luồng này sang luồng khác. Cái luồng tâm này với những nghiệp lực là căn bản cho sự tái sinh. Theo Vi Diệu pháp, tâm không phải là một cá thể, mà là một dòng tâm thức gồm nhiều loại tâm khởi lên rồi diệt. Khi con người còn sống thì dòng tâm thức lặng lẽ trôi chảy trong ngũ uẩn, nếu không có một tâm nào khác khởi lên. Khi chết, dòng tâm thức cuối cùng của kiếp này trở thành dòng tâm thức đầu tiên của kiếp sau. Duy Thức học khai triển thêm tâm thức là cái biết, căn bản là tạng thức, chứa đựng các loại chủng tử ... Tóm lại, dù nhìn dưới khía cạnh nào, có thể nói theo Thiền Tông: Có hai thứ tâm. Một thứ là tâm theo dòng tâm thức, khởi lên rồi diệt, vì ngũ uẩn bị mê mờ bởi tham ái, dục lạc, vọng tưởng; tâm này được gọi là Vọng tâm là tâm của chúng sinh. Hai là Chân tâm có tự tính là thanh tịnh, không sinh diệt, không dao động, thường vắng lặng, là tính giác của những vị đã giác ngộ, cũng còn được gọi là Tâm Phật.
3. Tâm trong Công giáo
3.1 Trong giáo lý
Tuỳ theo văn mạch và mối tương quan, “tâm” trong Công Giáo được diễn tả bằng nhiều danh từ khác nhau: Tim (heart), cõi lòng con người (the depths of one's being), tâm hồn (mind), linh hồn (soul), lương tâm (consciene).
3.1.1. Dùng từ “tim” [7] (con tim, trái tim, quả tim) khi muốn nói “tâm” là:
- Trung tâm hiện hữu của con người.
- Nơi thầm kín của cá nhân, lý trí hay người ngoài không dò thấu được, chỉ có Chúa Thánh Thần mới có thể thăm dò và thấu suốt được.
- Nơi con người chân thật với mình nhất, để chọn lựa sự sống hay sự chết.
- Nơi gặp gỡ để sống các mối tương giao, vì chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa: Nơi sống giao ước.
3.1.2. Dùng từ “lòng con người” khi muốn nói “tâm” là:
- Nơi Thiên Chúa đã ghi sâu các giới luật tự nhiên của Ngài [8].
- Nơi quyết định chọn Thiên Chúa hay không [9].
- Nơi có sự giận dữ và ganh tị là hậu quả của nguyên tội [10].
- Nơi phát xuất những ý định xấu, là nguồn gốc của mọi tội lỗi [11].
- Nơi Chúa Thánh Thần sẽ đổi mới, ghi khắc lề luật mới [12].
3.1.3. Dùng từ “tâm hồn” khi muốn nói “tâm” là:
- Trung tâm của nhân cách luân lý [13].
- Nguồn phát xuất các đam mê, đam mê căn bản nhất là tình yêu do điều thiện hảo lôi cuốn [14].
- Nơi Thiên Chúa đã ghi sâu các giới luật tự nhiên của Ngài [15].
- Nơi cần thanh luyện để chiến đấu chống lại nhục dục [16].
3.1.4. Dùng từ “linh hồn” khi muốn nói “tâm” là:
- Nguyên lý thuần linh nơi con người, nhờ đó con người là hình ảnh Thiên Chúa [17].
- Cái thâm sâu nhất và giá trị nhất nơi con người [18].
- Sự sống của con người và cũng là toàn diện con người [19].
- Mầm sống vĩnh cửu do Thiên Chúa trực tiếp sáng tạo mà con người mang nơi mình [20].
3.1.5. Dùng từ “lương tâm” khi muốn nói “tâm” là:
- Nơi con người hiện diện một mình với Thiên Chúa và tiếng nói của Người vang dội trong thâm tâm họ [21].
- Tiếng gọi con người phải yêu mến và ra lệnh phải làm lành lánh dữ [22].
- Nơi phán đoán các lựa chọn cụ thể bằng cách tán thành lựa chọn tốt, tố giác lựa chọn xấu [23].
Như vậy, một cách tương đối, có thể hiểu “tâm” là: (1) “tâm hồn” trong tương quan với “thân xác” trên bình diện con người nói chung. (2) “linh hồn” trong tương quan với “thể xác” trên bình diện con người tôn giáo. (3) “lương tâm” trong tương quan với “thiện ác” trên bình diện lý trí. (4) “cõi lòng” trong tương quan với “thân xác” trên bình diện ý chí. (5) “trái tim” trong tương quan với “yêu ghét” trên bình diện tình cảm.
3.2 Trong thực hành
Đạo Chúa bắt nguồn từ “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1Ga 4, 8), vì Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi phó nộp Con Một của Người cho thế gian (x. Ga 3,16): "Ðức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi, đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta" (Rm 5, 8).
Bởi đó, có lệnh truyền “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13, 34). Ai ghét bỏ tha nhân, kẻ ấy không còn là môn đệ của Chúa Giêsu nữa: “Người ta căn cứ vào dấu này để nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13, 35).
Kitô hữu có bổn phận “huấn luyện lương tâm” [24] và “thanh luyện tâm hồn” [25] để thể hiện chữ tâm: “hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực” (Mc 12,30), để đi cho đến tận cùng sự sống là “chết cho người mình yêu” (x Ga 15,13-14) khi ấy, Kitô hữu hoàn tất cuộc đời mình trong chữ tâm. Đó là lý do mà xưa kia người Việt gọi Đạo Chúa là “Đạo Yêu Thương” vậy.
4. Kết luận
Trên bình diện hữu thể luận: “Tâm” trong Phật Giáo và Công Giáo có ý nghĩa rất khác biệt nhau. Tuy nhiên, cả hai đều có thể nhất trí rằng: Con người có thể và cần phải điều chỉnh đào luyện cái tâm của mình, nỗ lực thanh lọc tâm được thanh tịnh, giải thoát tâm khỏi tham ái, dục vọng, ích kỷ, hận thù.
Trên bình diện tâm linh: Đối với Phật Giáo, niềm tin về sự tương thuộc các pháp và về luật nhân quả cũng như quyết tâm đi đến giác ngộ là những nguồn cảm hứng mạnh mẽ để phát huy tình yêu đồng loại và lòng từ bi. Còn đối với Công Giáo, niềm tin vào Thiên Chúa đem lại sự gần gũi với Đấng Thiêng Liêng và khuyến khích họ vun trồng lòng bác ái và tính vị tha. Và điều hiển nhiên là: Con người ai cũng có thiện tâm thì thế giới sẽ yên trụ mãi mãi; con người có ác tâm thì thế giới sẽ huỷ diệt.
Muốn đạt tới được mong ước của Đức Hồng Y Gioan Baotixita: “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” hay “thiên thời, địa lợi, nhân hoà”, để canh tân giáo phận, đều cần đến thiện tâm.
_______________________________________________________
Ghi chú
[1] Tâm芯: bấc, tim đèn, tên một thứ cỏ xưa dùng làm tim đèn: đăng tâm (tim đèn).
[2] Bốn quyển Lăng Già Kinh Chú nêu ra 2 tâm: Hãm-lật-đà (Tự tính thanh tịnh) và Chất đa tâm (Lự tri tâm). Chỉ Quán nêu ra 3 tâm: Chất đa tâm, Hăn-lật-đà tâm (Thảo mộc tâm), Hi-lật-đà tâm (Tính tập tinh yếu tâm). Ðại Nhật Kinh Sớ nêu ra 2 tâm: Chất đa tâm và Cán-lật-đà tâm. Cán-lật-đà tâm gồm có 2 nghĩa: Nhục đoàn tâm và Chân thực tâm. Trong Duy Thức Luận Thuật Ký và Duy Thức Khu Yếu, tông Pháp Tướng nêu ra 3 tâm: Chất đa (tâm), Mạt-na (Ý), Tì-nhã-để (thức). Tông Kính Lục nêu ra 4 tâm: Hột-lị-đà tâm (Nhục đoàn tâm), Duyên lự tâm, Chất-đà tâm, Kiền-lật-đà tâm (Kiên thực tâm). Tam Tạng Pháp Số quyển 19 nêu ra 4 tâm: Nhục đoàn tâm, Duyên lự tâm, Tích tụ tính yếu tâm, Kiên thực tâm. Tóm kết lại có 6 loại tâm.
[3] Liễu biệt: (1) Biết, nhận biết, nhận thức; hiểu biết sự vật một cách phân biệt; (2) Cho thấy, làm cho biết, diễn tả, hiện hành; (3) Thấy, nhận biết.
[4] Phật Giáo quan niệm có tám loại hình tướng của tâm gọi là bát thức (thức là sự phân biệt, phân tích, phân loại và nhận biết đối tượng). Tám thức này bao gồm năm thức giác quan: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức; ý thức; mạt-na thức (tương ứng với ý niệm về bản ngã) và a-lại-da thức (là kho chứa mọi dấu ấn từ kinh nghiệm của mình). Sự phân chia tám thức chỉ là một phương tiện để dễ tìm hiểu những mặt khác nhau của thức; nó không phải là cố định như thế. Thực ra, tám thức ấy chỉ là tám tác dụng hay tám cách biểu hiện của nhận thức, chứ không phải là “tám cái tâm” riêng rẽ, biệt lập. Tuy là có tám thức, nhưng các thức đều liên hệ mật thiết với nhau; tuy một mà là tám, tuy tám mà là một, cho nên chúng có thể thu về một mối, đó là thức - tức là căn bản thức hay a-lai-da thức.
[5] Mạt-na (S: manas) thường dịch sang chữ Hán là Ý. Theo Duy thức học, mạt-na được xem là cứ điểm sinh khởi những quan niệm sai lầm về ngã (ngã si, ngã kiến, ngã mạn) và những phiền não do kết quả từ những quan niệm sai lầm trên.
[6] A-lại-da thức (S. ālayavijñāna) còn gọi là A-đà-na, Như Lai tạng, chân thức hay thức căn bản; A-lại-da (S. ālaya) nghĩa là tàng trữ, chất chứa duy trì mọi tập quán, xu hướng, ảnh tượng lưu lại trong mỗi người.
[7] Xem Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo (GLHTCG), số 2563.
[8] GLHTCG, số 1958.
[9] x. Dt 6, 5; 29, 3; Is 29, 13; Ed 36, 26; Mt 6, 21; Lc 8, 15; Rm 5, 5.
[10] GLHTCG, số 2259.
[11] Mc 7, 18-21, GLHTCG, số 1873.
[12] GLHTCG, số 715.
[13] GLHTCG, số 2517.
[14] x. Mc 7,21, GLHTCG, số 1764-1765.
[15] GLHTCG, số 1954.
[16] GLHTCG, số 2517.
[17] GLHTCG, số 363.
[18] x. Mt 26-38 và Mt 10, 28; 2Mac 6, 30.
[19] x. Mt 16, 25-26; Ga 15, 13 và Cv 2, 41.
[20] GS 18, 1 ; x 14, 2. GLHTCG số 33.
[21] GS 16, GLHTCG số 1776.
[22] x. Rm 2, 14-16.
[23] x. Rm 1, 32, GLHTCG số 1777.
[24] Xem GLHTCG số 1783-1784.
[25] Xem GLHTCG số 2532.

Canh tân - đổi mới?


Canh tân - đổi mới

Chủ đề Lời Chủ Chăn tháng 7-2010 của Đức Hồng Y Gioan Baotixita là “Việc cần làm: canh tân ngôi nhà Giáo Hội” [1]. Trong Thư mục vụ đầu Xuân 2011 [2], ngài lại chọn chủ đề “Lời kêu gọi canh tân, đổi mới”, thêm thuật từ “đổi mới”, và ngài nói: “Đại Hội Dân Chúa Việt Nam 2010 kêu gọi mọi người Công Giáo Việt Nam hãy canh tân đời sống, đổi mới nếp nghĩ, lối ứng xử và cách làm, nhằm xây mới sự hiệp thông trong Giáo Hội”. Vậy canh tân và đổi mới có giống nhau không?
1. Nghĩa của những chữ canh, tân, đổi, mới.
1.1. Canh có nhiều chữ Hán: 更, 羹, 羮, 耕, 畊, 庚, 賡 (赓), 埂, 埄, 鶊 (鹒), 秔, 粇, 稉, 粳, 浭, trường hợp này là chữ更, nghĩa là: dt. (1) Đơn vị cổ chỉ thời gian bằng 1/5 của đêm: Đêm năm canh, ngày sáu khắc. (2) Họ Canh. đt. (3) Đổi khác, sửa đổi: Canh bộc (đổi người khác thay mặt mình); canh tân (đổi mới). (4) Từng trải: Thiếu canh bất sự (nhỏ chẳng trải việc, ít tuổi chưa từng trải mấy).
Nghĩa Nôm: đt. (1) Chăm nom: Canh coi. (2) Nấu lâu cho thêm nồng độ: Canh thuốc. (3) Mang bên lòng: Canh cánh nào nguôi.
1.2. Tân có 13 chữ Hán: 新, 濱, 津, 滨, 賓(宾), 薪, 辛, 鋅 (锌), 檳 (槟), 莘, 繽 (缤), 獱, 蠙. Ở đây chúng ta bàn về chữ新, nghĩa là dt. (1) Mới: Thôi trần xuất tân (đẩy cũ ra mới, trừ cái cũ đi, đem cái mới ra). (2) Quốc hiệu của Vương Mãng sau khi cướp ngôi nhà Hán (năm 8-22). (3) Tên viết tắt của tỉnh Tân Cương. (4) Họ Tân. (5) Phiên âm: Tân gia ba (Singapore). đt. (6) Cải tiến: Nhật tân hựu tân (ngày càng đổi mới). (7) Trong sạch: Cải quá tự tân (đổi lỗi cũ để tự sửa cho mình trong sạch, chừa bỏ điều lỗi, sửa lại mình). tt. (8) Mới: Tân niên (năm mới). (9) Những gì thuộc về mới cưới: Tân lang (chú rể), tân phòng (phòng của vợ chồng mới cưới)…
Nghĩa Nôm: dt. (1) Xử nữ: Gái tân. (2) Màng trinh: Còn tân.
1.3 Đổi (Nôm), nghĩa là đt. (1) Biến dạng: Đổi trắng thay đen. (2) Đưa cái mình có để lấy cái người khác có, theo thoả thuận giữa hai bên: Đổi tiền lẻ. (2) Thay bằng cái khác: Đổi địa chỉ, đổi tên, đổi ngôi. (3) Biến chuyển từ trạng thái, tính chất này sang trạng thái, tính chất khác: Tình thế đã đổi khác, đổi tính nết. (4) Chuyển đi làm việc ở một nơi khác: Đổi đi công tác khác.
1.4 Mới (Nôm), nghĩa là: dt. (1) Người gõ mõ, rao mõ trong làng, theo cách gọi thông tục: thằng mới. tt. (2) Vừa làm xong mà chưa dùng hoặc chưa lâu, chưa cũ: Bộ quần áo mới, ngôi nhà mới. (3) Vừa có, chưa lâu: Học sinh mới, người bạn mới. (4) Tiến bộ, thích hợp với thời đại: Cách làm ăn mới, tư tưởng mới. pht. (5) Với thời gian chưa lâu: Nó mới đến, mới năm ngoái thôi. (6) Còn quá sớm, chưa nhiều thời gian: Họ mới gặp nhau được vài lần. (7) Mãi đến thời gian nào đó, không sớm hơn: Đến trưa mới xong. trt. (8) Từ nhấn mạnh mức độ, tỏ ra hết sức ngạc nhiên: Nó nói mới thú vị làm sao! (9) Chỉ có thể thực hiện được, biết được (khi có điều kiện gì): Có thực mới vực được đạo (tng.), thức khuya mới biết đêm dài, ở lâu mới biết con người có nhân (tng.).
2. Nghĩa của thuật từ đổi mới và canh tân:
Đổi mới là thay cái mình đang có bằng cái khác tiến bộ, thích hợp hơn. Canh tân là thay cái cũ đổi lấy cái mới.
Đồng nghĩa thay đổi với chữ canh còn có chữ cải (改) và chữ cách (革):
- Cải 改: đt. (1) Thay đổi: Cải lão hoàn đồng, cải dạng. (2) Sửa cho tốt hơn, thay ác ra thiện. xấu ra tốt, sai thành đúng: Cải cách, cải trang (lắp đặt lại). (3) Lại lần nữa: Cải giá. (4) Cái khác: Cải nhật (ngày khác). (5) Cụm từ: Cải chùy (lưỡi vặn ốc).
- Cách革: đt. (1) Thay đổi, đổi cũ ra mới: Cải cách, cách mạng; (2) Tước, bỏ đi, không dùng nữa: Cách chức, bị cách; dt. (3) Da thú, da thuộc: Cách lý (giầy da).
Đổi mới, cải tân, cách tân hay canh tân đều có nghĩa là thay cái cũ đổi lấy cái mới, riêng thuật từ cách tân thường được dùng nói về văn hóa. Các thuật từ này đồng nghĩa với nhau, chỉ có khác biệt ở chỗ cải tân, cách tân và canh tân là tiếng Hán Việt, còn đổi mới là tiếng Nôm.
Trong Thánh Kinh, Nhóm CGKPV dùng từ “đổi mới” để dịch chữ innovatus (Go 29, 20; Tv 51, 12; Kn 7,27; Ac 5, 21) và renovatus (Tv 104, 30; Rm 12, 2; 2Cr 4, 16; Ep 4, 23; Cl 3, 10; Tt 3, 5; Dt 6, 6). Trong tiếng Latin, innovatus: Đổi mới, cách tân; renovatus: Nâng cấp, cải tiến, đổi mới; sửa chữa lại, hồi phục lại. Tiếp đầu ngữ in-: trong, vào trong; re-: tái lại, một lần nữa; novus: mới.
3. Những thuật từ này được Thánh Phaolô giảng dạy một cách cụ thể và dễ hiểu: “Anh em đã cởi bỏ con người cũ với những hành vi của nó rồi, và anh em đã mặc lấy con người mới, con người hằng được đổi mới theo hình ảnh Đấng Tạo Hoá” (Cl 3, 9-10), đây chính là ý nghĩa của “canh tân”.
Theo ĐHY Phanxicô Nguyễn Văn Thuận: “Canh tân không phải chỉ đổi nước mã bên ngoài, đổi một số nghi thức cho “ngoạn mục”, đổi tên các uỷ ban cho “kêu” hơn, đập đổ cơ cấu cũ, dựng nên một số tổ chức mới, hội nghị, tuyên ngôn... Canh tân là trở về nguồn, là thích nghi Phúc Âm với thế giới hôm nay. Thánh Phaolô nói rõ: “Anh em hãy cởi bỏ kiểu sống xưa kia... Hãy để Thần Khí đổi mới anh em thấu tận trí khôn. Hãy mặc lấy người mới đã tạo dựng nên theo Thiên Chúa...” (Ep 4,22-24). Công thức canh tân: Làm cho người Công Giáo trở lại đạo Công Giáo. Làm cho người Kitô hữu trở lại với Chúa Kitô. Động lực và tác giả mọi cuộc canh tân trong Hội Thánh là Chúa Thánh Thần, "Đấng canh tân mặt đất". Con không thể canh tân ngoài Chúa Thánh Thần (x. Đường Hy Vọng, số 634-662).
Cha Anthony de Mello trong cuốn “The Song Of The Bird” viết câu truyện về Sufi Bayazid, ông nói về chính mình như sau: Tôi là nhà cách mạng, khi tôi còn trẻ và tất cả lời cầu nguyện của tôi với Chúa là: “Lạy Chúa, xin ban cho con nghị lực để con thay đổi thế giới.” Khi tôi tới tuổi trung tuần và nhận thấy rằng nửa đời người đã qua đi mà không đổi thay được một tâm hồn nào. Tôi đã thay đổi lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin cho con ân sủng để thay đổi những người liên hệ và gặp gỡ con, như gia đình và bạn bè của con và con sẽ được an lòng”. Bây giờ, tôi đã già và ngày giờ sắp hết, lời cầu của tôi: “Lạy Chúa, xin cho con ân sủng để thay đổi chính con”. Nếu tôi cầu nguyện điều này ngay từ khởi đầu, tôi đã không phí uổng cuộc đời của mình. (Change the world by changing me, trang 40).
4. Kết luận.
Trong Mùa Chay, Hội Thánh kêu gọi các tín hữu canh tân cuộc sống, từ bỏ lối sống cũ, con người cũ, những gì không tốt, để sống đời sống mới, công chính và thiện hảo hơn: “Anh em hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới” (Cl 3, 1-2). Mùa chay là thời gian thuận tiện để đổi mới con người và cuộc sống.
Nhưng không chỉ trong Mùa Chay mà là thường xuyên, Kitô hữu phải từ bỏ những gì không tốt và tìm kiếm những gì thuộc về Thiên Chúa: “Giáo Hội, Mẹ hiền không ngừng cầu nguyện, hy vọng và hành động, cũng như khuyên giục con cái thanh tẩy và canh tân, để dấu ấn của Chúa Kitô chiếu sáng rạng ngời hơn trên khuôn mặt Giáo Hội” (GH 15). Đó chính là “canh tân” hay “đổi mới” của Kitô hữu vậy.
______________________________________________________
Ghi chú:
[1] http://tgpsaigon.net/baiviet-tintuc/20100703/5603
[2]http://hdgmvietnam.org/thu-muc-vu-dau-xuan-2011-cua-duc-hong-y-tong-giam- muc-tgp-tp-hcm/2557.124.3.aspx

Giữ chay và ăn chay?


Giữ chay và ăn chay

1. Tháng 3 năm 2007, tôi có viết một bài giải thích hai thuật từ trai tịnh và chay tịnh, nay có người lại hỏi tôi có gì khác biệt giữa thuật từ “giữ chay” và “ăn chay”. Hai thuật từ này dùng rất phổ biến trong cuộc sống hằng ngày, mà chúng ta ít để ý đến ý nghĩa khác biệt của nó. Vậy chúng ta tìm hiểu xem hai thuật từ này đồng nghĩa hay khác nghĩa.
2. Tìm hiểu việc ăn chay, giữ chay trong vài tôn giáo
2.1 Phật Giáo:
Theo quan điểm bình dân, Phật tử ăn chay là vì muốn tránh quả báo luân hồi. Theo thuyết luân hồi, con người sau khi chết bị đày xuống địa ngục, sẽ bị đẩy làm ngã quỷ (ma đói), sau khi hối cải sẽ được làm súc sinh (loài vật), cuối cùng đầu thai trở lại làm người theo bánh xe luân hồi. Do đó, tu sĩ Phật Giáo hay nhiều Phật tử có thói quen ăn chay trường, tức là không ăn thịt và những thức ăn có máu, vì có thể sẽ ăn thịt người thân của mình trong kiếp súc sinh. Những ngày 1, 14, 15 và 30 âm lịch được coi là ngày mở cửa âm phủ, các linh hồn được tự do, những ngày đó Phật tử thường ăn chay [1].
Thực ra, trong Phật Giáo có hai trường phái chủ trương ăn chay khác nhau. Phật giáo Nam Tông, vì muốn giữ truyền thống khất thực của Đức Phật, thời Phật giáo Nguyên thủy, cho nên phái này chủ trương ăn chay theo cách ‘tam tịnh nhục’, nghĩa là những loại thịt nào mà mình không thấy người ta giết, không nghe tiếng kêu la của loài thú bị giết, hay không có sự nghi ngờ nào người khác vì mình mà giết, những loại thịt đó thì tỳ kheo được thọ dụng, không phạm giới. Thế nhưng, Phật giáo Bắc Tông (Đại Thừa ở Trung Quốc) thì không chấp nhận cách ăn chay này, họ quan niệm rằng ăn chay là không được ăn thịt cá, chỉ ăn các loại rau đậu…
Tuy nhiên, dù Nam Tông hay Bắc Tông, mục đích của việc ăn chay là nhằm tăng trưởng lòng từ bi, giảm bớt lòng sân hận, bằng cách tu tập không sát sinh, biết thương yêu người đồng loại và ngay cả các loài vật khác. Khi đã có lòng từ bi, không nỡ giết loài cầm thú, thì người ấy khó có thể giết người. Đó là lý do tại sao đức Phật đưa ra giới cấm: ‘không được sát sinh’. Giới này cũng chính là nhân tố để hình thành quan điểm ăn chay trong đạo Phật.
2.2 Hồi Giáo:
Người Hồi giáo ăn chay vào khoảng tháng 9 (lịch Hồi giáo, gọi là tháng Ramadan). Trong tháng này, khi còn ánh sáng mặt trời, họ không được ăn và uống, đến đêm thì mới ăn. Cũng trong tháng này, con người phải tha thứ và sám hối, vợ chồng không được gần nhau vào ban ngày nhưng ban đêm vẫn có thể ân ái với nhau. Trẻ em và phụ nữ có mang không phải thực hiện Ramadan.
Đối với Hồi giáo: Ăn chay là "nhịn ăn, nhịn uống trước rạng đông đến hoàng hôn và quyết tâm diệt trừ những ham muốn tầm thường, chế ngự được sự đói khát, đè nén được dục vọng là làm chủ được thể xác, không còn bị nó sai khiến. Khi kềm chế được dục vọng là tinh thần tự giải thoát, ý chí được tự do, tâm hồn thanh thản, đây là điều kiện cần cho việc tịnh tâm, cầu nguyện và giúp thăng tiến về mặt tâm linh... "Ăn chay" là chấp nhận quy phục Allah, mọi giai tầng trong xã hội đều phải tuân thủ như nhau: Vua, quan, sĩ, nông, công, thương, binh, đều phải nhịn ăn đúng giờ, xả chay đúng giờ quy định... Hành động này thể hiện sự bình đẳng của nhân loại trước Allah."
Như vậy, mục đích việc ăn chay trong Hồi giáo là để chế ngự những ham muốn tầm thường, làm chủ bản thân, thăng tiến tinh thần.
2.3. Công Giáo:
Đối với người Công Giáo, chay tịnh là một trong ba hành vi được khuyên làm nhiều nhất trong đạo (cùng với việc cầu nguyện và bố thí), tín hữu giữ chay để biểu lộ lòng sám hối, ăn năn, tưởng nhớ đến cuộc khổ nạn của Chúa Kitô. Việc chay tịnh bao gồm nhịn ăn (jejunium [2]) và kiêng ăn (abstinentia [3]) mà chúng ta quen gọi là "ăn chay" và "kiêng thịt".
- Việc nhịn ăn (ăn chay): Trong ngày chay chỉ được ăn một bữa no (chọn bữa nào cũng được), còn những bữa khác chỉ được ăn chút ít để bụng còn đói. Trong ngày chay không được ăn vặt như kẹo, bánh v.v,...
- Việc kiêng ăn (kiêng thịt): Cấm ăn thịt loài máu nóng (heo, bò, gà, vịt…) bao gồm thịt và tất cả những thứ khác như tim, gan, lòng... Nhưng được dùng các nước thịt và các đồ ăn có pha chất thịt, như cháo nước thịt. Được ăn cá và loài máu lạnh (như ếch, rùa, sò, cua, tôm). Ngày kiêng thịt cũng được phép dùng trứng và các sản phẩm từ sữa như bơ và phó mát [4]...
Qua việc chay tịnh, con người nhìn nhận mình lệ thuộc Thiên Chúa, vì lúc không sử dụng lương thực Thiên Chúa ban, con người cảm nghiệm được tính cách bấp bênh của sức lực mình: chay tịnh để tự hạ trước Thiên Chúa (xc. Tv 34,13; 68,11; Đnl 8,3) [5].
Ngoài việc nhịn ăn và kiêng ăn nói trên, người thực hành việc chay tịnh còn phải tránh xa tội lỗi và dục vọng, như gương của Chúa Giêsu “giữ chay ròng rã bốn mươi đêm ngày” (Mt 4, 2) và thánh Luca nói rõ hơn “Trong những ngày ấy, Người không ăn gì cả” (Lc 4, 2).
Ý nghĩa đầu tiên và cụ thể nhất của giữ chay là chế ngự : không ăn hoặc ăn ít hơn bình thường. Giữ chay không chỉ là một sự chế ngự có tính cách bên ngoài, nhưng còn phải xuất phát tự trong lòng. Nó phải được kèm theo một sự thay đổi lớn lao trong đời sống.
3. Nghĩa chữ ăn, giữ và chay:
3.1. Ăn (chữ Nôm: 咹) : đt. (1) Đưa thực phẩm vào bao tử: Ăn cháo đá bát (không nhớ ơn), ăn chay (tránh dùng thịt cá và ngũ huân); (2) Đi kiếm thức ăn hoặc lợi nhuận: Ăn mày, ăn xin, ăn bám, ăn hại, ăn lương; (3) Thắng cuộc: Ăn con xe, ăn giải nhất, ăn non (vội rút lui khỏi cuộc đỏ đen sau khi chiếm được thắng lợi, vì sợ sắp tới vận xui); (4) Thích hợp tiếp nhận: Ăn cánh, ăn khách, ăn ảnh; (5) Thoả thuận: Ăn chịu, ăn gánh (ưng thuận gia nhập hội đoàn và đóng góp cho hội đoàn), ăn giá (số tiền được thỏa thuận giữa kẻ mua người bán); (6) Vui hưởng, ăn uống nhân một dịp gì: Ăn chơi, ăn diện, ăn Tết; (7) Nam nữ sống chung: Ăn nằm, ăn ngủ, ăn ở; (8) Thấm vào, dính vào, lan rộng ra: Giấy ăn mực, keo dán không ăn, ăn nên làm ra (công việc làm ăn có phần hanh thông), nước ăn chân (chân ngâm nước lâu bị hư da); (9) Lối cư xử và sinh sống: Ăn cháo đá bát (vô ơn bạc nghĩa), ăn cơm nhà vác ngà voi (làm công vụ mà không được lợi lộc gì); (10) Ngang với, giá trị tương đương: một đô la Mỹ ăn mười bảy nghìn đồng.
3.2. Giữ (chữ Nôm: 佇, 拧, 貯) : đt. (1) Cầm chắc trong tay, không để mất mát: Nắm giữ đầu dây; (2) Để cạnh mình, trong mình và quan tâm đến cho khỏi mất, khỏi chuyển sang người khác, khỏi thay đổi: Giữ chìa khoá; giữ hành lý, giữ độc quyền; (3) Làm cho dừng, ngừng lại, ở lại: Đắp bờ giữ nước; (4) Cản trở sự thay đổi: Giữ giá, giữ trật tự; (5) Hành động cách thận trọng, đề phòng thiệt thòi tai hại: Giữ kẽ (cư xử e dè trước người lạ), giữ ý (không dám nói cho hết tư tưởng thầm kín), giữ vệ sinh; (6) Đảm nhiệm một công việc hay chức vụ: Giữ chức giám đốc; (7) Tuân thủ theo yêu cầu của một công việc, trung thành với một niềm tin: Giữ đạo, giữ vững lập trường.
3.3. Chay (chữ Nôm 齋, 斎): Trong bài “Trai tịnh hay chay tịnh” năm 2007 tôi đã phân tích chữ chay, chữ này là do chữ trai (齋, Hán Việt) chuyển sang, nên chay đồng nghĩa với trai. Chay nghĩa là: (1) Kiêng ăn vì lý do tôn giáo: Ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói dối; (2) Kiêng thịt cá và ngũ huân (5 món : nồng hành, tỏi, hẹ, kiệu, ngò) vì lý do tôn giáo: Ăn chay trường; (3) Mời nhà sư tới cầu kinh cho người chết: Lập đàn chay; (4) Cây cho trái ngọt và mềm lại cho vỏ dùng để ăn trầu: Trái chay, vỏ chay; (5) Dầu thảo mộc dùng làm keo khi khô rất cứng: Trát dầu chay (hay đọc ra chai).
4. Nghĩa từ ăn chay, giữ chay:
4.1. Ăn chay vốn là một từ bên Phật Giáo và đã được cha Alexandre de Rhodes giảng trong Từ điển Annam - Bồ Đào Nha - Latinh như sau: "Ăn chay. Đích thực có nghĩa là kiêng thịt và cá, nhưng bây giờ để chỉ sự ăn chay của những Kitô hữu. Ăn chay (jejunium) có nghĩa là giới hạn lượng lương thực được ăn vào những ngày cụ thể. Còn kiêng cữ (abstinentia) có nghĩa là từ bỏ một thức ăn khoái khẩu như thịt, cá, tôm…"
Ăn chay, theo nghĩa hẹp, là ăn uống có kiêng cử (Ví dụ: kiêng ăn thịt cá... đối với Phật tử, kiêng ăn ngoài bữa và giảm lượng thức ăn... đối với người Công Giáo, kiêng ăn uống ban ngày đối với người Hồi Giáo).
Ăn chay, theo nghĩa rộng, là thực hành việc khổ chế bằng cách kiêng cử không chỉ về món ăn thức uống mà còn cả những phương tiện hưởng thụ và thỏa mãn khác [6]. Theo nghĩa này thì "ăn chay" không chỉ là việc ăn uống mà còn là một thái độ (tinh thần thống hối), một lối sống (khiêm cung, từ bỏ những thú vui chính đáng) nhằm biểu lộ lòng thống hối, tưởng nhớ đến cuộc khổ nạn của Chúa Kitô (theo Công Giáo) - mà ta quen gọi là "giữ chay".
4.2. Giữ chay là tuân thủ những yêu cầu về việc chay tịnh, giữ chay bao hàm ý nghĩa rộng hơn là ăn chay (theo nghĩa hẹp). Tương tự như khi chúng ta nói bổn phận "giữ ngày Chúa Nhật" thì rộng nghĩa hơn là bổn phận "dự (xem) lễ ngày Chúa Nhật" [7].
5. Kết luận
Thuật từ giữ chay là thuật từ riêng biệt của người Công Giáo, ngoài từ điển Công Giáo, các từ điển ngoài đời hầu như không có thuật từ này và nó cũng đúng với ý nghĩa của việc chay tịnh của người Công Giáo.
Mặc dù ăn chay có nghĩa rộng như đã nói trên, nhưng trong một số trường hợp, chúng tôi thấy nên dùng chữ giữ chay thay cho ăn chay thì thích hợp hơn, thí dụ:
- “Hôm ấy họ ăn chay cho đến chiều. Rồi họ dâng lễ toàn thiêu và lễ kỳ an lên trước nhan Đức Chúa” (Tl 20, 26).
- “Họ cử hành tang lễ, khóc lóc và ăn chay cho đến chiều để tỏ lòng thương tiếc vua Sa-un” (2Sm 1, 12).
- “Khi nghe những lời ấy, vua A-kháp xé áo mình ra, khoác áo vải bố bám sát vào thịt, ăn chay, nằm ngủ với bao bì và bước đi thiểu não” (1 V 21, 27).
- “Xin cha cứ đi tập hợp tất cả những người Do-thái ở Su-san lại. Xin bà con ăn chay cầu nguyện cho con. Suốt ba ngày đêm, đừng ăn uống gì cả. Con và các cung nữ cũng sẽ làm như thế.” (Et 4, 16).
- “Người ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày, và sau đó, Người thấy đói.” (Mt 4, 2).
 “Chúng tôi đã mất khá nhiều thời gian, và việc đi biển từ nay thật nguy hiểm, vì ngày ăn chay đã qua rồi.” (Cv 27, 9).
Cũng theo nghĩa này mà chúng ta thấy trong bản tiếng Việt Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo (1997) dùng chữ "giữ chay" thay vì "ăn chay" [8].
-------------------------------------------------
Ghi chú:
[1] http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%82n_chay.
[2] Jejunium: (1) Chay = jẻne ; (2). Đói = faim; (3). Tính chất đất khô chồi = stérilité.
[3] Abstinere : (1) Kiêng, giữ; (2) Giữ xa, giữ khỏi.
[4] Lưu ý: Tuổi giữ chay: Từ 18 tuổi trọn đến hết 59 tuổi ; Tuổi kiêng thịt: Từ 14 tuổi trở lên ; Ngày buộc giữ chay và kiêng thịt : Thứ Tư Lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh.
[5] Xem Bài Giảng Chúa Nhật số 3-2007.
[6] "Fasting means self-mastery; it means being demanding with regard to ourselves; being ready to renounce things—and not just food—but also enjoyment and the various pleasures" (Sứ Điệp Mùa Chay 1979 của ĐTC Gioan Phaolô II, Số 2).
[7] "Điều răn thứ nhất: Vào các Chúa nhật và các ngày lễ buộc, các tin hữu buộc phải tham dự thánh lễ và tránh tất cả những công việc tự bản chất ngăn trở việc thánh hóa những ngày ấy." (Sách Giáo Lý HTCG số 2042).
[8] Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, bản dịch của Ban Giáo Lý GP.TPHCM, 1997: Số 575, 1387, 1430, 1434, 2043, 2742.
-------------------------------------------------
Tham khảo.
1. Bộ Giáo Dục Đào Tạo, Nguyễn Như Ý (chủ biên), ĐẠI TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT, nxb. Văn Hoá Thông Tin, Hà Nội, 1999.
2. Hoàng Phê (chủ biên, TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT, Viện Ngôn Ngữ Học, nxb Đà nẵng, Hà Nội-Đà Nẵng, 2005.
3. Thiều Chửu, HÁN VIỆT TỰ ĐIỂN trên mạng :
http://pagesperso-orange.fr/dang.tk/langues/hanviet.htm.
4. Lê Văn Đức, TỰ ĐIỂN VIỆT NAM, nhà sách Khai Trí, Saigon, 1970.
5. Alexandre de Rhodes, TỪ ĐIỂN ANNAM-LUSITAN- LATINH (thường gọi Từ điển Việt-Bồ-La), nxb Khoa Học Xã Hội, Tp. HCM, 1991.

Lòng thương xót của Chúa


Lòng thương xót của Chúa

Ngày 30/04/2000, Đức Giáo Tông Gioan Phaolô II tuyên bố thiết lập lễ Divina Misericordia (Divine Mercy) vào Chúa Nhật II Phục Sinh. Từ đó phong trào này phát triển rất nhanh ở Việt Nam. Hàng tháng tại những xứ lớn, dù trưa hay chiều, có đến cả ngàn, cả vạn người tham dự. Lễ này có nhiều cách gọi trong tiếng Việt: Lòng thương xót Chúa, lòng Chúa xót thương, lòng Chúa thương xót. Tại Sài Gòn tên gọi “Lòng thương xót Chúa” phổ biến hơn, nhưng cuốn “Những ngày lễ Công giáo” của Giáo phận Sài Gòn thì ghi là “Lòng thương xót của Thiên Chúa”. Chúng ta thử xem xét ý nghĩa của những tên gọi này.
1.     Nguồn gốc.
Năm 1931, Thánh Faustina Kowalska được thấy Chúa hiện ra và được đặt làm sứ giả Chúa để phổ biến lòng nhân từ của Chúa cho nhân loại qua nhật ký đời tư của chị thánh. Nhật ký này được phổ biến khắp nơi. Sứ điệp này nhấn mạnh lòng Chúa yêu thương tất cả mọi người, không phân biệt người tốt kẻ xấu.
 
Đức Giáo Tông Gioan Phaolô II muốn mọi tín hữu luôn kính nhớ lòng yêu thương của Chúa, nên ngài đặt tên cho lễ này là Divina Misericordia (Divine Mercy).
 
2.     Nghĩa của thuật từ Divina Misericordia.
 
 2.1.          Divina là giống cái của divinus, cùng nghĩa với tiếng Anh divine. Nghĩa là tt. Của / thuộc về (1) _Thiên Chúa, thần linh. (2) nhà chiêm tinh. (3) người hoàn thiện. (4) bậc đế vương.
 
2.2.          Misericordia thì hơi khác với tiếng Anh mercy. Nghĩa là dt. (1) Lòng trắc ẩn (2) Lòng từ bi. (3) Lòng nhân từ. (4) Lòng thương xót. Mà tiếng Anh mercy nghĩa là : dt. (1) Lòng thương, lòng nhân từ, lòng từ bi: For mercy's sake (vì lòng thương). (2) Lòng khoan dung: To beg for mercy(xin khoan dung, xin dung thứ). (3) Ơn, ơn huệ. (4) Sự may mắn, hạnh phúc, điều sung sướng: It was a mercy it did not rain (thật may mà trời không mưa); That's a mercy! (thật là một hạnh phúc!).
 
3.     Nghĩa của những chữ lòng, thương, xót, Chúa.
 
3.1.          Lòng (Nôm), nghĩa là : dt. (1) Những bộ phận trong bụng của con vật giết thịt, dùng làm thức ăn (nói tổng quát): Lòng lợn; cỗ lòng; xào lòng gà. (2) (kết hợp hạn chế) Bụng con người: Ấm cật no lòng; trẻ mới lọt lòng (vừa mới sinh). (3) Tâm địa, coi là biểu tượng của mặt tâm lý, tình cảm, ý chí, tinh thần: Đau lòng; bận lòng; cùng một lòng. (4) Chỗ giữa:Lòng suối; đào sâu vào lòng đất. (5) Trong vòng tay: ôm con vào lòng. (6) Gầm: Lòng cầu. (7) Tròng: Lòng trắng trứng. (8) Tên cá nhỏ nước ngọt: Lòng tong. tt.(9) Quanh co: Lòng vòng. trt. (10) Thả dài xuống:Lòng thòng.
 
3.2.          Thương có 35 chữ Hán, chữ 愴gần nghĩa trong thuật từ thương xót, chữ này còn có âm là sảng có nghĩa là đt. (1) Xót xa. Pht. (2) Buồn sầu (cổ văn): Thương nhiên lệ hạ (đau lòng sa nước mắt).
Nghĩa Nôm: đt. (1) Yêu; trìu mến nhiều: Thương người như thể thương thân. (2) Xót xa: Thương tình. (3) Tổn hại: Nhà thương.
 
3.3.          Xót    (Nôm): đt. (1) Da non gặp chua hay mặn; ngứa ngáy; xốn: Xót con mắt. (2) Thương sâu xa: Xót ruột. (3) Tiếc: Xót vì mất tiền. (4) Nhớ: Xót người tựa cửa hôm mai.
 
 3.4.          Chúa (Nôm): dt. (1) Người đứng đầu cai quản: Vắng chúa nhà, gà bới bếp(tng.); chúa sơn lâm. (2) Người có quyền như vua: vua Lê chúa Trịnh. (3) Đấng tối cao: Thiên Chúa. tt. (4) Tài giỏi: Hắn đánh bóng bàn chúa lắm. pht. (5) Rất, hết sức (nói về mấy loại dở): ông ta chúa ghét thói nịnh bợ.
 
 4.     Tìm hiểu về quan hệ từ “của”:
 
 “Của” là liên từ biểu thị quan hệ sở thuộc giữa chính thể (thành tố chính) với bộ phận của chính thể (thành tố phụ). Trong tiếng Việt, quan hệ từ không có vai trò bắt buộc như ở nhiều ngôn ngữ khác. Tuy nhiên, cần lưu ý:
 
4.1. Không nên cho rằng giữa chính thể và bộ phận của nó lúc nào cũng có thể tùy tiện ghép thêm hay giản lược quan hệ từ. Trong chừng mực nhất định vẫn có sự khác nhau giữa việc có mặt và vắng mặt của quan hệ từ:
 
- Về mặt ý nghĩa: Quan hệ từ giúp xác định rõ ràng thêm mối quan hệ ý nghĩa giữa chính thể và bộ phận.
Ví dụ: - Người Công Giáo Việt Nam thế kỷ 21. 
 
- Người Công Giáo của Việt Nam thế kỷ 21. 
 
- Người Công Giáo Việt Nam của thế kỷ 21.
 
- Về mặt tổ chức: Quan hệ từ làm cho bộ phận tách ra được khỏi chính thể và do đó làm tăng thêm tính độc lập của nó đối với chính thể.
 
Ví dụ: - Chiếc áo Đức Mẹ.
                   - Chiếc áo của Đức Mẹ.
 
4.2. Trường hợp vắng quan hệ từ và trường hợp không thể sử dụng quan hệ từ:
 
- Nếu thành tố phụ kết hợp gián tiếp với thành tố chính thì từ ghép diễn tả ý nghĩa quan hệ và lúc ấy có thể sử dụng hoặc không cần sử dụng quan hệ từ. Người ta gọi đây là trường hợp từ ghép có hai biến thể.
Ví dụ: 
Có thể nói

Hoặc nói

 Giám mục của giáo phận

 Giám mục giáo phận.

Đức tin của Hội Thánh

 Đức tin Hội Thánh.
- Nếu thành tố phụ kết hợp trực tiếp với thành tố chính thì từ ghép diễn tả ý nghĩa đặc trưng và lúc ấy không thể sử dụng quan hệ từ.
Ví dụ: 
Có thể nói

Không thể nói

 Giám mục phụ tá

 Giám mục của phụ tá

 Đức tin tông truyền

 Đức tin của tông truyền
4.3. Vì những lý do đó, trước khi sử dụng loại từ ghép có hai biến thể cần phải cân nhắc cẩn thận để chọn lựa biến thể nào cho thích hợp.
 
- Ví dụ: Khi muốn diễn tả ý nghĩa quan hệ, ta nói: Linh mục của dòng này; Cái tính yếu đuối của anh ấy; Giáo lý của Công Giáo; Lòng thương xót của Chúa.
 
- Ví dụ: Khi muốn diễn tả ý nghĩa đặc trưng, ta nói: Linh mục dòng; Cái tính yếu đuối con người; Giáo lý Công Giáo; Lòng thương xót Chúa (= Thiên Chúa có lòng thương xót).
 
5.     Lòng thương xót Chúa hay Lòng Chúa xót thương?
 
Thương xót (đt.): Đau thương và xót xa vì nỗi bất hạnh của người khác. “thương xót” là từ ghép láy nghĩa [1], gồm hai thành tố có ý nghĩa tương tự với nhau: “thương” và “xót”, là hai yếu tố đồng loại, bình đẳng (chỉ cần một yếu tố cũng tạm đủ), thuộc loại có trật tự bấp bênh, chưa cố định, nên có thể hoán chuyển vị trị lẫn nhau mà không đổi nghĩa: thương xót = xót thương (Ví dụ: yêu thương, hận thù, tranh đấu, đơn giản, hoán cải...).
 
Lòng thương xót (dt.): Lòng cảm thấy đau thương và xót xa vì nỗi bất hạnh của người khác. “lòng thương xót” là từ ghép phụ nghĩa [2], vì “lòng” (chỉ về sự vật) và “thương xót” (chỉ về hành động), là hai thành tố không cùng loại với nhau. Trong đó, “lòng” là thành tố chính, quyết định tính chất của tổ hợp từ, còn “thương xót” là thành tố phụ, bổ sung ý nghĩa cho “lòng”. Do đó, không thể thay đổi trật tự của hai thành tố này. Có thể nói: Lòng thương xót = lòng xót thương; nhưng không thể nói: thương xót lòng.
 
Lòng Chúa (dt.): Chỉ về “nội tâm” của Thiên Chúa hay để nhấn mạnh chính Thiên Chúa. “Lòng Chúa” là từ ghép phụ nghĩa, gồm hai thành tố có ý nghĩa khác biệt nhau: “Chúa” là thành tố chính, trực tiếp, nòng cốt; “Lòng” là thành tố phụ, có vai trò hạn định ý nghĩa “Chúa”.
 
“Lòng Chúa thương xót”: cũng là một từ ghép phụ nghĩa có kết cấu danh từ + động từ, gọi là quan hệ “danh-động”. Trong đó: “Lòng Chúa” là thành tố chính, “thương xót” là thành tố phụ, có vai trò hạn định ý nghĩa “lòng Chúa”. Cụm từ này có thể dùng để diễn tả ý nghĩa đặc trưng của “lòng Chúa” là “(hay) thương xót”. Nhưng nếu dùng để dịch thuật từ “Divina Misericordia” thì không sát nghĩa.
 
“Lòng thương xót Chúa” là từ ghép phụ nghĩa. “Lòng thương xót của Chúa” có thể xem là một danh ngữ [3] hay một đoản ngữ[4].
 
6.     Kết luận.
 
Có người đề nghị thay động từ “thương xót” bằng tĩnh từ “nhân từ” để tránh cách hiểu “lòng (ai đó) thương xót Chúa”. Nhưng như chúng tôi đã giải thích ở trên, cách hiểu như thế thì không chính đáng. Mặt khác, theo chúng tôi “lòng thương xót Chúa” - gồm các chữ Việt (chữ thương tuy có gốc Hán nhưng cũng đã hóa Nôm) thì hay hơn là “lòng nhân từ Chúa” vừa Hán vừa Việt.
 
Cụm từ “lòng thương xót Chúa” thường được dùng như một danh ngữ, chứ không dùng như một câu. Do đó không thể hiểu đây là một câu. Khi nói “lòng thương xót Chúa” thì người ta hiểu là “lòng thương xót của Chúa” tức là một danh ngữ, chứ không phải là một câu: “lòng (chủ từ) thương xót (động từ) Chúa (thuộc từ)” vì thế không thể hiểu là: “(có) lòng thương cảm đối với Chúa” [5]... Tương tự khi nói: “10 điều răn Đức Chúa Trời” thì người ta hiểu là: “10 điều răn của Đức Chúa Trời” chứ không hiểu là: “10 điều (chủ từ) ‘răn (dạy, bảo)’ (động từ) Đức Chúa Trời (thuộc từ)”...
 
Tuy nhiên, để tránh sự hiểu lầm đối với những người bình dân chưa nắm vững tiếng Việt, thì việc dụng cụm từ “lòng thương xót của Chúa” là rõ nghĩa và chính xác hơn cả.
_______________________________________________
 
Ghi chú.
[1] Từ ghép láy nghĩa là kiểu từ ghép trong đó các thành tố trực tiếp có vai trò bình đẳng với nhau và có ý nghĩa láy nhau: (a). Hoặc vì chúng có ý nghĩa tương tự nhau:hư vô, tranh đấu, binh lính; (b) Hoặc vì chúng có ý nghĩa cặp đôi nhau: thanh danh, vĩnh viễn; (c) Hoặc vì chúng có ý nghĩa ngược nhau: thị phi, thành bại.
 
[2] Từ ghép phụ nghĩa là kiểu từ ghép trong đó có một thành tố trực tiếp đứng làm nòng cốt rồi bên cạnh ghép thêm một thành tố khác, đứng làm thành tố phụ. Ví dụ:Hải quân, nồng độ, thí điểm, vĩnh biệt, vô ích...
 
[3] Danh ngữ:Kết cấu ngữ pháp trong đó danh từ là yếu tố trung tâm, quy tụ xung quanh một số yếu tố phụ khác.
 
[4] Đoản ngữ: Tổ hợp từ có quan hệ chính phụ.
 
[5] Từ đó đã có người đặt câu hỏi: Ai thương xót ai? Chúa thương xót chúng ta, hay chúng ta thương xót Chúa?...

Giáng sinh?


Giáng Sinh

“Hang Bêlem” là bài ca danh tiếng của nhạc sĩ Phanxicô Hải Linh, câu mở đầu là “Đêm đông, lạnh lẽo Chúa sinh ra đời”, vậy mà ca sĩ nọ lại hát là “Đêm đông lạnh lẽo Chúa giáng sinh ra đời”. Hai chữ “giáng sinh” đã đi vào đầu óc chúng ta từ lâu, ngày Chúa hạ sinh, chúng ta nói là Chúa giáng sinh.
 
Lễ Giáng Sinh tiếng Latin là Nativitas Domini (Sinh nhật của Chúa [1]), tiếng Anh là Christmas (do chữ “Christ’s Mass” nghĩa là Thánh lễ của Đức Kitô), tiếng Hoa gọi là Thánh Đản Tiết (Thánh:  vị thánh; đản: sinh ra; tiết: tết, ngày mừng).
 
1.      Nguồn gốc.
Trong những thế kỷ đầu, Hội Thánh chú tâm vào việc loan báo cuộc khổ nạn, sự chết và sống lại của Chúa, nên không mừng ngày sinh của Chúa. Các tín hữu họp nhau trong ngày Chúa Nhật, ngày phục sinh của Chúa. “Tuy nhiên ngay từ năm 200, thánh Clementê Alexandria (150-215) đã nói đến một lễ hết sức đặc biệt được cử hành vào ngày 20 tháng 5. Còn Hội Thánh Latin thì mừng kính lễ ấy vào ngày 25 tháng 12.” [2] Năm 354, Đức Giáo Tông Liberius công bố ngày 25 tháng 12 là ngày chính thức để cử hành Lễ Giáng Sinh của Chúa Giêsu, thay cho ngày lễ ăn mừng Thần Mặt Trời của người Rôma.
 
2.      Nghĩa của chữ giáng, sinh.
 2.1. Giáng: Có bốn chữ Hán, ở đây là chữ降, nghĩa là: (đt.) (1) Rơi, rụng xuống:Sương giáng (sương xuống); (2) Hạ xuống: Giáng quan (quan phải xuống chức dưới cái chức đang làm); (3) Ban cho: Giáng phúc (ban ơn phước); (4) Người đáng kính quang lâm: Giáng giá (ngài đến); (5) Nén lại: Giáng tâm tương tùng(nén lòng cùng theo); (6) Sau này: Tự tư dĩ giáng (từ này về sau).
 2.2. Sinh: Có năm chữ Hán, trong trường hợp này là chữ生, nghĩa là: (dt.) (1) Mạng sống: Dưỡng sinh (nuôi mạng sống); (2) Quãng đời sống: Sinh thời (khi còn sống); (3) Cuộc sống: Khởi tử hồi sinh (từ chết sống lại); (4) Hết thảy những gì có sự sống, nói chúng: Sinh vật; (đt.) (5) Đẻ, Sinh sản, sinh ra: Sinh tử (đẻ con) (6) Làm ăn kiếm sống, nuôi: Kế sinh nhai (các cách để nuôi sống); (7) Xảy ra:Sinh bệnh; (8) Gây ra: Sinh sự; (9) Nhóm lửa: Sinh lư tử (đốt lò); (10) Mọc ra:Sinh căn (đâm rễ); (11) Xuất hiện, hiện ra: Phát sinh;; (12) Trưởng thành: Sinhđắc như hoa tự ngọc (trưởng thành đẹp như hoa như ngọc); (13) Nho sĩ: Thư sinh; (14) Học trò: Học sinh; (15) Họ Sinh; (tt.) (16) Chưa chín: Sinh tích tân quả (một trái táo xanh), sinh nhục (thịt sống); (17) Chưa quen biết: Sinh khách(khách lạ); (pht.) (18) Rất nhiều: Sinh thống (đau lắm); (19) Cưỡng bách: Sinh lạp ngạnh xả (生拉硬扯cố mà kéo); (trợ từ) (20) Dùng làm tiếng đệm: Y sinh(thầy thuốc)
 
3. Nghĩa của từ giáng sinh.
 Giáng là hạ xuống, sinh là sanh ra, giáng sinh là từ trên hạ xuống mà sanh ra. Theo cuốn “Trùng Biên Quốc Ngữ Từ Điển Tu Chính Bản” [3] thì giáng sinh là mục từ viết tắt của câu “Kim Đồng giáng thế, Ngọc Nữ tái sinh”. Truyện kể [4]: “Kim Đồng, Ngọc Nữ là hai tiểu thần của Chân Vũ Đại Đế. Hai vị chịu trách nhiệm ghi chép thiện, ác, công lao hay tội lỗi của tam giới. Kim Đồng bị ảnh hưởng  việc lấy vợ gã chồng của trần gian, nên đã chọc ghẹo Ngọc Nữ, bị Chân Vũ Đế phát hiện, nên đã giáng xuống nhân gian. Kim Đồng làm một ông già bói toán. Vì trước đó phụ trách sổ sách của Chân Vũ Đế, “Nam Đẩu ghi sự sống, Bắc Đẩu ghi sự chết”, biết hết tình trạng của mọi người, nên bói toán luôn đúng. Người ta gọi ông là Chu Công. Ngọc Nữ không phải là thủ phạm, nên xuống làm con một gia đình nghèo, họ Nhâm, tên là Đào Hoa.”
 Ngày nay khi nói đến giáng sinh thì người ta chỉ nghĩ đến từ trên hạ sinh. Khi người ta chúc mừng con người khác thông minh tài giỏi, thì nói “thạch lân giáng thế”, nghĩa là con thạch kỳ lân trên trời bị giáng xuống thế gian. Thật ra nghĩa chính của thuật từ này chỉ có nghĩa là sinh ra đời, nhưng thường nói về việc sinh ra đời của một bậc vĩ nhân, một người sáng lập ra một tôn giáo hay có khi cũng nói về sự xuất hiện những bậc thần tiên xuống thế. 
Giáng thế, giáng trần hay giáng phàm đều có cùng một nghĩa là xuống thế gian, trần gian hay cõi phàm trần này; còn giáng sinh thì có nghĩa khác một chút là (từ cao)xuống thế sinh ra.
 Ngày lễ Chúa Giêsu sinh ra đời, Trung Quốc gọi là Thánh Đản Tiết (nghĩa là ngày lễ mừng vị thánh sinh ra đời). Người Đài Loan thì gọi là Gia [5] Đản Tiết. Họ quan niệm Khổng Tử mới là vị thánh, nên gọi mừng ngày sinh của Khổng Tử là Khổng Thánh Đản Tiết. Nhưng trên thực tế, khi nói đến Thánh Đản Tiết ai cũng hiểu là lễ sinh nhật của Chúa Giêsu. 
 
Nhận xét 
Ở Việt Nam, vì kính huý Danh Thánh Chúa, nên “Societas Jesus” thường được gọi là Dòng Tên, chứ không gọi là Dòng Chúa Giêsu. Cũng vậy, Lịch Phụng Vụ trước đây (1967) ghi ngày 25/12 là Lễ Sinh Nhật Đức Chúa Giêsu, nhưng Kitô hữu Việt Nam chỉ gọi là Lễ Sinh Nhật mà thôi. Hiện nay, khi nói đến Lễ Giáng Sinh, ai cũng hiểu là lễ mừng sinh nhật của Chúa Giêsu, tuy giáng sinh chỉ có nghĩa là hạ sinh, cũng không chỉ rõ ai giáng sinh.
_______________________________________________________
Ghi chú
[1] Từ Chúa (Dominus) ở đây phải hiểu là Chúa Giêsu Kitô - Ngôi Lời nhập thể, chứ không phải là Thiên Chúa (Deus). Trong Thánh Kinh, Dominus ám chỉ quyền lãnh chúa phổ quát và tuyệt đối của Giavê (trong Cựu Ước) hay của Chúa Kitô (trong Tân Ước). Bản Bảy Mươi đã dịch danh xưng Hípri Adonai sang tiếng Hy lạp là Kurios, Bản Latin dịch Dominus, Bản Phụng Vụ Các Giờ Kinh dịch Đức Chúa. Tân Ước áp dụng tước hiệu này cho Chúa Kitô một cách trực chỉ (in recto) nói lên quyền tối cao và gián chỉ (in obliquo) nói về thần tính (theo cách dùng của Cựu Ước). Theo O. Cullmann, đây là tước hiệu súc tích và nền tảng nhất giữa các tước hiệu dành để chỉ Ngôi Lời nhập thể (Giêsu, Kitô, Con Người, Con Thiên Chúa, Con Một, Rabbi, Logos, Pontifex, vv...) (x. A. Drexel, Ngôi Lời Nhập Thể Cứu Chuộc, Giáo Hoàng Học Viện Piô X, Đà Lạt, 1975, tr. 22-25) 
[2] Từ điển Công Giáo phổ thông, John A.Hardon, S.J. Image books, New York, chủ biên: Lm Đặng Xuân Thành, Dịch: Nhóm Chánh Hưng, Nxb Phương Đông, 2008. 
[3] Bộ Giáo Dục Đài Loan: http://dict.revised.moe.edu.tw/
[4] “Chân Vũ Bổn Truyền Diệu Kinh” : http://www.twtaoism.net/php/menushow.php?style_id=299 
[5] Tức là Gia Tô, Giêsu.
File gửi kèm: